Cuộc cách mạng an toàn hàng không

Như Quỳnh

Không có hãng hàng không thương mại nào ở Mỹ gặp tai nạn chết người kể từ năm 2009. Đây là câu chuyện của những người trong ngành, những người đã cùng nhau xây dựng các hệ thống mới và xoa dịu nỗi sợ hãi tồi tệ nhất của những người đi máy bay.

Cuộc cách mạng an toàn hàng không

(Doanhnhan.vn trân trọng giới thiệu tới quý độc giả bài viết của The Wall Street Journal)

Trong 12 năm qua, các hãng hàng không Mỹ đã đạt được một kỳ tích đáng kinh ngạc: chuyên chở hơn 8 tỷ lượt hành khách mà không có một vụ tai nạn chết người nào. Những con số như vậy đã từng là không tưởng, ngay cả với các chuyên gia an toàn lạc quan nhất. Nhưng giờ đây, các phi công Mỹ đã có thể trải qua cả sự nghiệp mà không gặp một sự cố hỏng hóc động cơ nào. Số liệu thống kê chính thức cho thấy trong những năm gần đây, phần rủi ro nhất của bất kỳ chuyến đi nào của hãng hàng không ở Mỹ là khi bánh máy bay ở trên mặt đất, trên đường băng hoặc đường lăn.

Hàng trăm nghìn người được cứu từ một cuộc cách mạng tư duy

Những thành tựu đạt được bắt nguồn từ một cuộc cách mạng tư duy bắt đầu từ năm 1996, được khơi dậy bởi một nhóm nhỏ những nhà quản lý cấp cao của Chính phủ Mỹ và các Giám đốc ngành hàng không sau hàng loạt các vụ tai nạn chết người vào giữa những năm 1990.

Sự thay đổi thời điểm đó là cần thiết. Bởi theo ước tính nếu tỷ lệ tai nạn thời đó vẫn giữ nguyên trong khi số lượng hành khách toàn cầu vẫn tăng trong tốc độ dự kiến, trung bình sẽ có ít nhất một vụ tai nạn máy bay lớn mỗi tuần ở đâu đó trên toàn cầu, khiến hàng trăm người tử vong vào năm 2015.

“Chúng tôi đã chứng kiến ​​những sai lầm giống nhau nhưng không ai nói gì về chúng cho đến khi quá muộn", ông Babbitt, người lúc đó là chủ tịch hiệp hội phi công lớn nhất Bắc Mỹ nói về cuộc cách mạng.

Một chương trình báo cáo sự cố tự nguyện đã được triển khai, nhờ sự hợp tác giữa các hãng hàng không. Đổi lại, nếu tự nguyện khai báo, các hãng hàng không và phi công có thể tránh khỏi án phạt một khi sai lầm được phát hiện.

Chương trình báo cáo sự cố tự nguyện vấp phải những nghi ngờ và phản đối sâu sắc từ một nhóm phi công và lãnh đạo hàng không. Tuy nhiên đến cuối những năm 1990, Cục Hàng không Liên bang Mỹ và các hiệp hội hàng không lớn nhất nước này đều tán thành chương trình và cùng bắt tay để biến nó thành hiện thực.

Chương trình báo cáo sự cố tự nguyện về nguyên tắc rất đơn giản nhưng lại khó thực hiện bởi nó đòi hỏi mức độ tin tưởng chưa từng có giữa những người vốn là đối thủ với nhau. Trong giai đoạn đầu, các phi công chỉ chia sẻ thông tin một cách miễn cưỡng về những mối nguy hiểm có nguy cơ gây tai nạn thảm khốc.

Thế nhưng dần dần, việc khai báo thông tin gần như đã trở thành một quy trình tự nguyện giữa các phi công, kiểm soát viên không lưu, thợ máy thay vì là quy định bắt buộc của chính phủ. Động lực lớn nhất của sự tự giác này đến từ ý thức “tự bảo tồn”. Theo ước tính, một vụ tai nạn máy bay gây tử vong hàng loạt có thể gây thiệt hại 1 tỷ USD cho hãng hàng không. Họ nhận ra “hợp tác thì tốt hơn trở thành đối thủ” và cùng giúp nhau tránh khỏi các nguy cơ rủi ro khi chúng còn chưa xuất hiện.

Một phần mảnh vỡ từ một cuộc tai nạn máy bay năm 1996 được trục vớt. Đây là năm đỉnh điểm về số người tử vong do tai nạn máy bay tại Mỹ.
Một phần mảnh vỡ từ một cuộc tai nạn máy bay năm 1996 được trục vớt. Đây là năm đỉnh điểm về số người tử vong do tai nạn máy bay tại Mỹ.

Bên cạnh sự tự giác của các nhân viên trong ngành hàng không, những bước tiến trong công nghệ cũng đóng một vai trò quan trọng. Hệ thống điện trong máy bay trở nên bền hơn, buồng lái được tự động hóa làm giảm nguy cơ lỗi từ phi hành đoàn. Trong khi đó các thiết bị mô phỏng trên mặt đất ngày càng được cải tiến phức tạp, giúp việc huấn luyện phi công trở nên nghiêm ngặt và thực tế hơn bao giờ hết.

Kết quả thu được rất đáng nể. Năm 1996, các hãng hàng không Mỹ có tỷ lệ tai nạn chết người là khoảng một vụ trên hai triệu chuyến bay. Chỉ riêng 1996 đã có hơn 350 người đã chết trong các vụ tai nạn hàng không nội địa. Thế nhưng chỉ trong vòng 10 năm, tỷ lệ tai nạn chết người đã giảm hơn 80% -  vượt mục tiêu do Nhà Trắng đề ra.

Hành khách Mỹ là những người được hưởng lợi lớn nhất, khi tỷ lệ tử vong nay giảm xuống chỉ còn một người cho mỗi 120 triệu chuyến bay.

“Thành công của sự cải tiến đã vượt xa mong đợi của tôi. Nó giống như mua một vé số với giá 10 USD và trúng giải độc đắc vậy", Randy Babbitt, người đứng đầu FAA từ năm 2009 đến năm 2011, cho biết.

Công chúng ngày càng khắt khe

Tuy nhiên, khi số lượng vụ tai nạn giảm dần, mỗi vụ tai nạn lại được công chúng quan tâm hơn, làm lu mờ kết quả của cuộc cách mạng an toàn năm 1996.

Vào tháng 2/2009, do mất tập trung và không được đào tạo đầy đủ, các phi công của Colgan Air đã khiến máy bay phản lực cánh quạt rơi xuống đất, làm chết 50 người.

Hành khách tại sân bay Quốc tế John F. Kennedy (New York) năm 2017.
Hành khách tại sân bay Quốc tế John F. Kennedy (New York) năm 2017.

Đó là vụ tai nạn chết người cuối cùng ở Mỹ cho đến tháng 4/2018. Trong chưa đầy 5 tháng, liên tục có 2 sự cố liên quan đến máy bay phản lực 737 MAX của Boeing. Điều này tạo nên một làn sóng khủng hoảng thực sự cho nhà sản xuất máy bay hàng đầu thế giới, đồng thời khiến công chúng quan ngại sâu sắc về độ an toàn của ngành hàng không thương mại

Dù cách nhau đến tận 9 năm, những sai sót trong 3 vụ tai nạn năm 2009 và 2018 vẫn khiến dư luận Mỹ và Quốc hội nước này sục sôi. Truyền thông chỉ trích khâu quản lý lỏng lẻo gây nên tai nạn. Vào lúc này, chính phủ và ngành hàng không tiếp tục mở cuộc cách mạng thứ hai, bổ sung thêm các thiếu sót mà cuộc cách mạng năm 1996 đã bỏ qua.

“Bất kể chúng tôi đã làm được gì trong quá khứ, điều đó sẽ không bao giờ đủ tốt. Chúng tôi (ngành hàng không) cần không ngừng cố gắng mới có thể giành được sự tin tưởng của công chúng", Giám đốc FAA Steve Dickson nhấn mạnh sự cần thiết của việc phải tiến hành một cuộc cách mạng mới sau thảm kịch 737 MAX.

Điều tra viên của Chính phủ Mỹ kiểm tra động cơ chiếc máy bay của Southwest Airlines sau vụ tai nạn năm 2018 khiến một hành khách tử vong. Đây là ca tử vong do tai nạn máy bay đầu tiên tại Mỹ trong vòng 12 năm
Điều tra viên của Chính phủ Mỹ kiểm tra động cơ chiếc máy bay của Southwest Airlines sau vụ tai nạn năm 2018 khiến một hành khách tử vong. Đây là ca tử vong do tai nạn máy bay đầu tiên tại Mỹ trong vòng 12 năm

Các chuyên gia an toàn đã mở rộng hơn nữa việc chia sẻ dữ liệu bằng cách kết hợp các báo cáo chi tiết bằng văn bản của phi công với thông tin radar từ kiểm soát không lưu và các dữ liệu khác. Điều này đòi hỏi phải phân tích thông tin từ hàng chục triệu chuyến bay và nhiều dấu vết radar khác.

Theo The Wall Street Journal, cuộc cách mạng an toàn ngành hàng không Mỹ lần thứ hai bao gồm tổng cộng 10 chương trình chia sẻ dữ liệu và báo cáo tự nguyện với sự tham gia của tất cả nhân viên hàng không, từ nhân viên sân bay, kỹ sư, kỹ thuật viên bảo trì đến phi công.

Tuy nhiên gần đây đã có một số báo động đỏ xuất hiện. Các chuyên gia an toàn cảnh báo kỹ năng bay thủ công của nhiều phi công đang bị mai một, chủ yếu vì phi hành đoàn phụ thuộc quá nhiều vào công nghệ lái tự động. Hầu hết phi công chỉ phải trực tiếp điều khiển máy bay trong vài phút của mỗi chuyến bay. Điều này làm giảm khả năng phối hợp tay mắt của các phi công và sự tự tin của họ trong trường hợp hệ thống lái tự động bị hỏng, dù trường hợp này rất khó xảy ra.

Tin Cùng Chuyên Mục