Cuộc chiến chip bán dẫn Mỹ - Trung gây thêm bất ổn cho thương mại toàn cầu

Đỗ Hiền Nikkei Asia Review

Cuộc chiến trong ngành công nghiêp bán dẫn Mỹ - Trung đang ngày một nóng lên với hàng loạt chương trình hỗ trợ cho ngành sản xuất chip nội địa của chính phủ hai nước. Kéo theo đó là một tương lai với những ẩn số lớn hơn cho thương mại toàn cầu.

Tổng thống Mỹ Joe Biden có thể không nhận ra rằng tại cách đây 2 tháng, khi định nghĩa con chip máy tính nhỏ bé mà ông cầm trong tay là “trọng điểm của thế kỷ 21”, ông chủ Nhà Trắng đã lặp lại logic về một “cơ sở hạ tầng mới” mà đối thủ Trung Quốc từng khẳng định.

Tuyên bố của ông Biden một lần nữa cho thấy: cả Mỹ và Trung Quốc dường như đã nhận ra rằng trong thời đại thông tin ngày nay, việc định nghĩa lại cụm từ “cơ sở hạ tầng” là rất quan trọng.

Tổng thống  Biden khẳng định tầm quan trọng của ngành công nghiệp bán dẫn trong cuộc họp với các CEO trong ngành tại Nhà trắng. Ảnh: AP
Tổng thống  Biden khẳng định tầm quan trọng của ngành công nghiệp bán dẫn trong cuộc họp với các CEO trong ngành tại Nhà trắng. Ảnh: AP

Một trong những minh chứng rõ ràng nhất cho điều này là quyết định rót 50 tỉ USD vào ngành công nghiệp sản xuất bán dẫn của tổng thống Biden, bên cạnh gói hỗ trợ 22 tỉ USD theo Đạo luật CHIPS for America mà Quốc hội đề xuất. Tương tự Trung Quốc, kế hoạch của ông Biden bao gồm các chương trình giảm trừ thuế, trợ cấp nghiên cứu và phát triển cho ngành công nghiệp bán dẫn với mục đích tăng cường năng lực sản xuất trong nước.

Tại thời điểm này, Trung Quốc có vẻ đang chiếm ưu thế về chiến thuật cạnh tranh, nhưng Mỹ lại có nhiều cơ hội hơn trong việc gia tăng năng lực sản xuất chất bán dẫn quốc gia một cách nhanh chóng và dễ dàng.

Với việc Mỹ, Trung Quốc và châu Âu đều đang nỗ lực thúc đẩy ngành công nghiệp sản xuất chip bán dẫn, quyết định của Washington có thể góp phần ổn định chuỗi cung ứng chất bán dẫn toàn cầu đang ngày càng dễ tổn thương. Tuy nhiên, cái giá mà Mỹ phải gánh chịu cũng không hề nhỏ, khi quyết định này đồng thời làm phức tạp thêm chuỗi cung ứng công nghiệp thế giới vốn đã đầy căng thẳng.

Hiện, Mỹ vẫn là quốc gia dẫn đầu trong ngành công nghiệp sản xuất bán dẫn. Trong năm 2020, các doanh nghiệp bán dẫn Mỹ chiếm tới 47% thị phần thế giới. Giá trị xuất khẩu chất bán dẫn của nước này trong năm ngoái đạt 49 tỷ USD, xếp thứ 4 trong danh sách các mặt hàng xuất khẩu chủ lực. Cùng với đó, Mỹ cũng chiếm ưu thế trong lĩnh vực thiết kế chip, phần mềm thiết kế chip, tài sản trí tuệ thiết yếu cũng như công cụ và thiết bị bán dẫn.

Đây không phải là lần đầu tiên Mỹ đối mặt với thách thức nghiêm trọng ở cương vị quốc gia dẫn dầu trong ngành sản xuất bán dẫn toàn cầu. Vào đầu những năm 1980, các công ty Mỹ đã mất tới 19% thị phần bán dẫn trên thế giới sau khi các công ty Nhật Bản đạt được những thành công lớn, đặc biệt là với DRAM (bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên động), bộ vi xử lý.

Song sau thỏa thuận thương mại bán dẫn Mỹ - Nhật năm 1986 gây tranh cãi, tới năm 1997, Mỹ đã hoàn toàn lấy lại vị thế của mình trong ngành công nghiệp bán dẫn toàn cầu. Những động thái của ông Biden nhằm thổi luồng sinh khí mới vào ngành công nghiệp bán dẫn Mỹ, nếu được thông qua, sẽ giúp gia tăng thị phần sản xuất chất bán dẫn của Mỹ, vốn đã giảm từ 37% của năm 1990 xuống chỉ còn 12% hiện nay.

Tương tự, mô hình phát triển kiểu “toàn dân làm chip” của Trung Quốc cũng có khả năng làm tăng thị phần sản xuất của nước này, nhưng với tốc độ chậm hơn và nền tảng yếu kém hơn.

Thị phần sản xuất vi mạch tích hợp của Trung Quốc trên thị trường toàn cầu được dự báo sẽ tăng từ 5,7% năm ngoái lên 7,5% vào 2025. Trong khi đó, cơ hội để EU tăng gấp đôi thị phần bán dẫn toàn cầu lên 20% vào năm 2030 tuy không hề dễ dàng, song việc mở rộng công suất là hoàn toàn có thể thực hiện được.

Việc mở rộng và đa dạng hóa nguồn cung toàn cầu như vậy sẽ giúp giảm thiểu rủi ro trong chuỗi cung ứng, khi hoạt động sản xuất bán dẫn hiện đang chỉ tập trung tại khu vực châu Á, một thực tế rõ ràng khi nhìn vào “cơn khát” chip bán dẫn toàn cầu hiện nay cũng như tình trạng giá cả tăng vọt. Tuy nhiên, cái giá đi kèm của việc này là tình trạng bất ổn sẽ gia tăng, kéo theo đó là các chu kỳ thị trường biến động hơn.

Việc ba khu vực kinh tế lớn nhất thế giới bước vào cuộc đua gia tăng thị phần và xây dựng thêm các nhà máy sản xuất chip bán dẫn, có thể sẽ dẫn đến tình trạng cung vượt quá cầu.

Xét cho cùng, ngành công nghiệp bán dẫn vốn có tính chu kỳ, với những biến động thương xuyên lặp lại theo chu kỳ kinh tế. Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, công suất sản xuất chất bán dẫn toàn cầu đã giảm xuống 68% vào năm 2008 và sau đó là 57% vào 2009, giảm so với mức trung bình của ngành là khoảng 90%. Nếu đợt suy thoái kinh tế tiếp theo trùng với công suất đỉnh của ngành công nghiệp này trong khoảng thời gian 5 năm, đó có thể là một thảm họa.

Việc xây dựng khả năng tự lực trong chuỗi cung ứng sản xuất chip cũng sẽ rất tốn kém, khi đòi hỏi khoản đầu tư ban đầu có thể lên tới 1.000 tỉ USD, qua đó có thể làm tăng giá chip bán dẫn lên tới 65%. Giá chip cao hơn đồng nghĩa với việc giá thành sản phẩm cuối cùng cũng cao hơn. Đó là lý do tại sao người mua ô tô đột nhiên phải trả nhiều tiền hơn cho chiếc xe của mình.

Câu hỏi đặt ra lúc này là: Làm thế nào ngành công nghiệp bán dẫn vẫn có thể hoạt động trong một thế giới mà niềm tin đã bị phá vỡ?

Khoản tiền 50 tỉ USD mà tổng thống Biden đề xuất cho các ưu đãi liên bang trong lĩnh vực sản xuất chip bán dẫn của Mỹ dựa trên ý tưởng rằng nhu cầu về chip trong các lĩnh vực quan trọng như quốc phòng, hàng không vũ trụ, mạng viễn thông, năng lượng và an ninh phải được đáp ứng bằng việc sản xuất nội địa. Thế nhưng, Mỹ sẽ làm gì nếu các lĩnh vực cần sử dụng chip bán dẫn khác cũng được xem là quan trọng?

Thêm vào đó, việc Trung Quốc tìm cách xây dựng chuỗi cung ứng chip bán dẫn không phụ thuộc vào Mỹ đang đặt các công ty bên thứ ba vào thế khó. Môi trường hoạt động của các công ty trong ngành trên toàn thế giới thậm chí còn trở nên phức tạp hơn. Tất cả những điều đó dẫn chúng ta đến một tương lai với những ẩn số lớn hơn.

Tin Cùng Chuyên Mục