Lãi suất ngày một mất giá, trở thành 'con ghẻ' trong chính sách tiền tệ mỗi quốc gia

Giang Phạm

Câu chuyện giới đầu tư, chủ doanh nghiệp lo lắng theo dõi biến động tăng, giảm của lãi suất đã trở thành quá khứ, bởi thế kỷ XXI có thể là dấu chấm hết cho tính hữu dụng của công cụ này.

Trong nhiều thiên niên kỷ, lãi suất là công cụ chính để đo lường giá trị tiền tệ. Đây cũng là thước đo để tính toán khoản chi mà các vương quốc thời trung cổ "tung ra" cho những cuộc chinh phạt xa xôi hay khả năng tham chiến của nhiều quốc gia trong thời hiện tại. Có thể nói, chúng ảnh hưởng đến mọi thứ, từ chi phí thực phẩm, chỗ ở, phương tiện đi lại đến chăm sóc sức khỏe và chi tiêu của một quốc gia.

Ngay cả giới đầu tư, người buôn bất động sản, chủ doanh nghiệp hay tổng thống... cũng phải chăm chú theo dõi mỗi khi lãi suất "hắt hơi sổ mũi". Thế nhưng, đó là câu chuyện của quá khứ, bởi thế kỷ XXI có thể là dấu chấm hết cho tính hữu dụng của công cụ này. 

Kiềm chế lạm phát ở mức thấp được coi là một trong những mục tiêu hàng đầu để các quốc gia.
Kiềm chế lạm phát ở mức thấp được coi là một trong những mục tiêu hàng đầu để các quốc gia.

Lạm phát từ lâu là động lực chính trong việc thiết lập trần lãi suất. Tuy nhiên, việc lạm phát gia tăng được coi như một "lời nguyền" mà các quốc gia đều phải "cố sống cố chết" kiểm soát bằng được trong vài thập kỷ gần đây. Để duy trì lạm phát ở mức mục tiêu, hàng loạt gói kích thích tài khóa lớn, nhiều gói cứu trợ tài chính, tiền tệ khổng lồ trị giá hàng nghìn tỷ USD được kích hoạt, đặc biệt khi Covid-19 tấn công nền kinh tế nặng nề năm qua. Kết quả, lạm phát giảm dần và lãi suất được duy trì ở mức 0%.

Tuy nhiên, ngay cả khi Nhật Bản, Thụy Sĩ và khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) áp dụng nới lỏng chính sách tiền tệ triệt để, đưa lãi suất về âm thì vẫn không đem lại hiệu quả trong việc đưa lạm phát ở mức mục tiêu.

"Đó là lý do vì sao lãi suất ngày càng mất giá", Stefan Gerlach, Yvan Lengwiler và Charles Wyplosz, 3 nhà kinh tế học thúc đẩy Ngân hàng quốc gia Thụy Sĩ (SNB) thay đổi chính sách nhận định.

Nhóm chuyên gia cho rằng đã đến lúc lãi suất không còn đóng vai trò như một công cụ quan trọng của chính sách tiền tệ, vốn được ngân hàng trung ương các nước sử dụng để điều tiết chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như lạm phát, đầu tư, thất nghiệp...

Cùng với đó, họ cũng khuyến nghị SNB nên công khai mức tăng lạm phát, đồng thời định hướng nền kinh tế thông qua tỷ giá hối đoái. Hướng tiếp cận này giống như những gì mà cơ quan quản lý tiền tệ Singapore đang áp dụng.

Giống như Thụy Sĩ, Singapore là một nước xuất khẩu nhỏ, giàu có và là một trung tâm tài chính kinh tế của châu Á. Quốc gia này xem tỷ giá hối đoái là công cụ hiệu quả nhất để điều hành chính sách tiền tệ và giữ lạm phát trong tầm kiểm soát, dựa trên quy mô nền kinh tế.

Về phần mình, quyết định thả nổi đồng franc của SNB đã tác động mạnh đến kinh tế Thụy Sĩ. Cơ quan này cũng duy trì mức lãi suất âm sâu nhất thế giới. "Tuy nhiên, SNB nên thừa nhận rằng tiền tệ là một trò chơi tài chính" Lengwiler, Giáo sư Đại học Basel nhận định. 

Ngay cả khi lạm phát tăng lên trong vài năm tới, triển vọng lãi suất chuẩn sẽ quay lại mức 2% như đầu năm 2008 rất mong manh. Đồng nghĩa với việc người dân cần một cái gì đó tốt hơn để điều tiết đời sống kinh tế ở thời điểm hiện tại. 

Theo tác giả Daniel Moss đăng trên Bloomberg, ngân hàng trung ương của các nền kinh tế thế giới nên tinh chỉnh cách tiếp cận với lạm phát. Lời khuyên này dường như có tác động trên toàn cầu. Sau khi đánh giá khuôn khổ chính sách tiền tệ quốc gia, Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục duy trì lãi suất hiện tại ở mức gần bằng 0 cho tới khi nền kinh tế tạo việc làm tối đa, đưa lạm phát tăng lên 2% và tiếp tục đà vượt quá 2% trong một thời gian. 

Ngân hàng trung ương Ấn Độ cũng đang cân nhắc những thay đổi để đưa ra chính sách phù hợp ổn định lạm phát. Các chuyên gia kinh tế ủng hộ mục tiêu của ngân hàng trung ương Australia khi duy trì lạm phát trung bình của nước này ở 2-3% trong trung hạn.

Ở thời điểm hiện tại, các mô hình quản lý tiền tệ cũ vẫn duy trì, chưa cho thấy mức cấp thiết trong việc phải thay thế. Tuy nhiên, hy vọng về tính hiệu quả của các chương trình nới lỏng định lượng được triển khai trước khi dịch Covid-19 xuất hiện sẽ có tác dụng. 

Khi đại dịch xảy ra, đó là thời điểm để các nhà hoạch định chính sách tiền tệ một cách cứng nhắc nhìn lại.

Tin Cùng Chuyên Mục